Trở lại   Học tiếng Trung | Du học Trung Quốc » HỌC TIẾNG VIỆT » Văn Hóa Đông Phương » Kiến Trúc

Kiến Trúc Kiến Trúc




Kiến trúc lăng tẩm Huế

Kiến Trúc


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
Old 08-07-2008, 11:16 AM
  post #1
ongnon
Khách mời
 
ongnon's Avatar
 
ID: 6
Tham gia: 13-05-2008
Bài gởi: 1,242
Cảm ơn: 136
Được cảm ơn: 787 lần trong 392 bài viết
Default Kiến trúc lăng tẩm Huế

Theo quan niệm truyền thống bao đời nay “sống là gửi, thác là về”, vì vậy nơi “trở về” ấy luôn được quan tâm chuẩn bị một cách chu đáo, đặc biệt là đối với các vua triều Nguyễn. Vì thế, nhiều lăng tẩm với các phong cách kiến trúc khác nhau đã được xây dựng khắp trên đất kinh đô, tạo nên nét riêng đặc sắc cho mảnh đất này.
LĂNG GIA LONG (Thiên Thọ Lăng):
[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Vua Gia Long có tên là Nguyễn Phúc Ánh (1762 – 1820), là người đã lập ra triều đại nhà Nguyễn, lên ngôi ngày 1 tháng 6 (âm lịch) năm 1802, niên hiệu là Gia Long. Lăng Gia Long nằm trên một ngọn đồi bằng phẳng và rộng lớn, phía trước có ngọn Đại Thiên Thọ làm tiền án, phía sau là 7 ngọn núi làm hậu chẩm. Bên trái và bên phải, mỗi bên có 14 ngọn núi là “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”. Tổng thể lăng chia làm 3 khu vực: Ở giữa là khu lăng mộ của vua và bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Qua khỏi sân chầu là những hàng tượng đá uy nghiêm, Bửu Thành nằm ở đỉnh đồi. Bên trong Bửu Thành có hai ngôi mộ đá (dạng thạch thất) được song táng theo quan niệm “Càn Khôn hiệp đức”. Bên phải là khu vực tẩm điện với điện Minh Thành là trung tâm. Bên trái là Bi Đình, có tấm bia lớn ghi bài “Thánh đức thần công” của vua Minh Mạng ca ngợi vua cha.

[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Tên gọi lăng Gia Long hiện nay thực ra là để chỉ cả một quần thể lăng tẩm của nhiều người trong hàng quyến thuộc của nhà vua, với trọng địa là khu lăng mộ của vua Gia Long và bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Quá trình xây dựng lăng diễn ra trong 6 năm (1814-1820), bắt đầu từ thời điểm bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (chính phi của vua Gia Long) qua đời vào ngày 21-2-1814. Nhà vua đã sai các quan trong Khâm Thiên Giám đi chọn đất để mai táng vợ mình. Về sau phát triển thành một khu lăng mộ rộng lớn với chu vi đến 11.234,40m (tài liệu của L. Cadière), gồm những lăng sau: - Lăng Quang Hưng của bà Thái Tông Hiếu Triết Hoàng hậu, vợ thứ hai của chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), thân mẫu của chúa Nguyễn Phúc Thái (Trăn). - Lăng Vĩnh Mậu của bà Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng hậu, vợ chúa Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Thái (Trăn) (1650-1725). - Lăng Trường Phong của Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế Nguyễn Phúc Thụ (Chú) (1697-1738). - Lăng Thoại Thánh của bà Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng hậu (1738-1811), vợ thứ hai của Nguyễn Phúc Côn (Luân) và là thân mẫu của vua Gia Long. - Lăng Hoàng Cô của Thái Trưởng Công chúa Long Thành, chị ruột vua Gia Long. - Lăng Thiên Thọ của vua Gia Long và vợ ông. - Lăng Thiên Thọ Hữu của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, vợ thứ hai của vua Gia Long, mẹ vua Minh Mạng. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi núi lớn nhỏ có tên gọi riêng, trong đó Đại Thiên Thọ là ngọn lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và được dùng để gọi tên chung cho cả quần sơn này: Thiên Thọ Sơn. Tất cả đều được quy hoạch trong khu vực quan phòng rộng hơn 28 km2, tạo thành một cảnh quan hùng tráng chạy dài từ chân dãy Trường Sơn đến bờ Tả Trạch - một hợp lưu của Hương Giang. Đích thân vua Gia Long đã thám sát, duyệt định vị trí, quy hoạch và chỉ đạo công tác thiết kế cũng như giám sát tiến độ thi công. Sử cũ cho hay, thầy Địa lý Lê Duy Thanh (con trai nhà bác học Lê Quý Đôn) là người tìm được thế đất này, nơi mà theo ông “đã tập trung được mọi ảnh hưởng tốt lành tỏa ra từ nhiều núi đồi bao quanh”, nơi mà “ảnh hưởng tốt lành sẽ còn mãi mãi trong suốt 10 ngàn năm” (theo L. Cadière). Cũng vì quá sâu sát với công trình xây cất “ngôi nhà vĩnh cửu” của mình mà có lần suýt nữa, Gia Long đã thiệt mạng trong một tai nạn ở công trường. Một trận gió làm sập ngôi nhà mà vua đang trú ngụ, vua Gia Long tuy đã ẩn trong một cái hố nhưng vẫn bị thương ở trán, mí mắt và bị dập chân do một thanh xà rơi trúng. Hai hoàng tử thứ bảy và thứ tám là Tấn và Phổ bị trọng thương, nhiều người khác bị chết. Gia Long không trừng phạt các quan lại thi công, ngược lại đã cấp thuốc men để chạy chữa cho họ, cấp phát 500 quan tiền và 500 tiêu chuẩn gạo cho dân làng Định Môn, gần nơi xây dựng lăng. Lăng tẩm nhà vua nằm trên một quả đồi bằng phẳng rộng lớn. Trước có ngọn Đại Thiên Thọ án ngữ, sau có 7 ngọn núi làm hậu chẩm. Bên trái và bên phải, mỗi bên có 14 ngọn núi là “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”. Tổng thể lăng chia làm 3 khu vực: Phần chính giữa là khu lăng mộ của vua và bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Qua khỏi sân chầu với các hàng tượng đá uy nghiêm và 7 cấp sân tế là Bửu Thành ở đỉnh đồi. Bên trong Bửu Thành có hai ngôi mộ đá, dạng thạch thất, được song táng theo quan niệm “Càn Khôn hiệp đức” - một hình ảnh đẹp của hạnh phúc và thủy chung. Bên phải khu lăng là khu vực tẩm điện với điện Minh Thành là trung tâm. Điện Minh Thành được dùng để thờ Hoàng đế và Hoàng hậu thứ nhất. Minh Thành nghĩa là “sự hoàn thiện rực rỡ”. Cũng có một cách giải thích khác là “hoàn thành vào ngày mai”, bởi người ta cho rằng: “Sườn của điện này chưa có sơn son thếp vàng và chạm khắc còn đơn giản” (theo L. Cadière). Bên trong điện Minh Thành, ngày trước có thờ nhiều kỷ vật gắn bó với cuộc đời chinh chiến của vua Gia Long như cân đai, mũ, yên ngựa. Bên trái khu lăng là Bi Đình, nay chỉ còn một tấm bia lớn ghi bài văn bia “Thánh đức thần công” của vua Minh Mạng ca ngợi vua cha, được chạm khắc tinh tế và sắc sảo. Men theo các lối đi giữa những đám cỏ và hoa rừng, du khách thả bước dưới bóng thông tươi mát để sang thăm các lăng phụ cận. Đáng lưu ý nhất là lăng Thiên Thọ Hữu của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, nằm trong một vị thế u tịch mà sâu lắng. Điện Gia Thành ở đó cũng là một công trình kiến trúc được xây dựng theo mô thức của điện Minh Thành, dùng để thờ người phụ nữ đã sinh ra vị vua có tài nhất của triều Nguyễn - vua Minh Mạng. Đến thăm lăng Gia Long, du khách có thể đi thuyền theo sông Hương khoảng 18km rồi cập bến lăng; hay đi đường bộ chừng 16km rồi qua bến đò Kim Ngọc, đi thêm vài cây số đường rừng thì bắt gặp hai Trụ biểu uy nghi nằm ngoài cùng. Trước đây, đó là những cột báo hiệu, nhắc nhở mọi người phải kính cẩn khi đi qua khu vực này và có đến 85 cột như vậy trong quần thể lăng Gia Long. Năm 1859 còn 42 cột và hiện nay du khách chỉ trông thấy 2 cột. Mới hay, thời gian và sự thờ ơ của con người có sức tàn phá kinh khủng. Ngày nay, chỉ còn rừng thông xanh làm đương biên cho khu lăng, bởi quanh lăng không có La thành. Theo gợi ý của L. Cadière từ hơn 60 năm trước đây, du khách nên viếng lăng Gia Long vào buổi chiều. Đó là thời khắc có thể ngắm cảnh hoàng hôn đang đến từ phía bên kia các hồ nước. Lấp lánh trong nắng vàng là những bóng thông xào xạc, vi vu đang soi bóng xuống mặt hồ gợn sóng. Chính lúc ấy, du khách mới cảm nhận hết vẻ đẹp hùng tráng và kỳ vĩ của khu lăng này. Phong cảnh xinh tươi hòa với nét uy nghi của đồi núi xa xa. Sự khắc khổ tĩnh lặng của cái chết hòa với sự sinh động, nét tuyệt mỹ của thiên nhiên chung quanh. Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn yên nghỉ trong sự tĩnh lặng tuyệt vời của vũ trụ. Lăng Gia Long là một bức tranh trác tuyệt về sự phối trí giữa thiên nhiên và kiến trúc, trong đó, thiên nhiên là yếu tố chính tạo nên nét hùng vĩ của cảnh quan. Đến thăm lăng, du khách được thả mình trong một không gian tĩnh lặng nhưng đầy chất thơ để suy ngẫm về những thành bại của cuộc đời mình cũng như vinh nhục của ông vua đầu triều Nguyễn. Tuy nhiên, đường đi cặp theo bờ sông khá vất vả, phần lớn hoang tàn đổ nát theo thời gian và chiến tranh nên cũng ít ai đến đây. Hy vọng Huế sẽ trùng tu và phục hồi lại di tích này để thu hút du khách.

LĂNG MINH MẠNG (Hiếu Lăng):
[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Vua Minh Mạng (1791 – 1841) là vị vua thứ nhì của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1820 đến 1841. Minh Mạng tên húy là Nguyễn Phước Đảm, (còn có tên khác là Nguyễn Phúc Kiểu), là hoàng tử thứ tư của vua Gia Long và thứ phi Trần Thị Đang. Lăng của ông được quan địa lý Lê Văn Đức chọn đất để xây ở địa phận núi Cẩm Kê, gần ngã ba Bằng Lãng, nơi hợp lưu của hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch để tạo thành con sông Hương thơ mộng. Năm 1940, lăng được khởi công, vừa xây dựng được 1 năm thì vua Minh Mạng đột ngột qua đời. Vua Thiệu Trị lên nối ngôi, đã chỉ huy gần 10.000 lính và thợ thi công tiếp công trình theo đúng họa đồ của vua cha để lại, đến đầu năm 1843 mới hoàn tất.

[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Lăng Minh Mạng là một mô hình kiến trúc qui mô gồm 40 công trình lớn nhỏ, bao gồm cả cung điện, đền miếu và lâu đài. Đại Hồng môn (cổng chính vào lăng) chỉ mở một lần để đưa quan tài nhà vua vào lăng sau đó được đóng chặt. Du khách vào tham quan lăng đi qua một trong hai cổng: Tả Hồng môn (cửa phía bên trái) và Hữu Hồng môn (cửa phía bên phải). Lăng Minh Mạng với hai hồ và kiến trúc trang hoàng tuyệt đẹp gồm cả cầu thang “rồng” bất hủ, là một trong những lăng tẩm uy nghi, đường bệ nhất trong các lăng tẩm vua nhà Nguyễn. Ngay trước lăng Minh Mạng là bến đò Tuần, nơi sông Hương chia 2 nhành Tả Trạch và Hữu Trạch, bên kia sông là lăng Tự Đức và Khải Định.
LĂNG TỰ ĐỨC (Khiêm Lăng):
[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Vua Tự Đức (1829 – 1883) có tên là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, là con thứ 2 của vua Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng (Hoàng hậu Từ Dũ), lên ngôi tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), làm vua được 36 năm (1847-1883). Nếu Minh Mạng là ông vua thiên về võ thì Tự Đức là ông vua thích thơ văn, rất yêu nghệ thuật, đã tập trung về kinh đô Huế nhiều người soạn kịch bản tuồng. Chính ông đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình.Khi mới khởi công xây dựng, vua Tự Đức lấy tên Vạn Niên Cơ đặt tên cho công trình, với mong muốn được trường tồn. Tuy nhiên, do công việc xây lăng quá cực khổ, lại bị quan lại đánh đập tàn dẫn, là nguồn gốc cuộc nổi loạn Chày Vôi của dân phu xây lăng. Do sự việc này, vua phải đổi tên Vạn niên cơ thành Khiêm Cung và viết bài biểu trần tình để tạ tội. Năm 1873, Khiêm Cung mới được hoàn thành, vua Tự Đức vẫn sống thêm 10 năm nữa rồi mới mất.

[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]Lăng Tự Đức có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn, tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế). Bố cục khu lăng gồm 2 phần chính, bố trí trên 2 trục dọc song song với nhau, cùng lấy núi Giáng Khiêm ở phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân làm hậu chẩm, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh đường. Ở đây quanh năm có suối chảy, thông reo, muôn chim ca hát. Không có những con đường thẳng tắp, đầy góc cạnh như các kiến trúc khác, thay vào đó là con đường lát gạch Bát Tràng uốn lượn quanh co. Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi. Lối đi lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ. Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần là khu điện thờ, nơi trước đây là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua. Đầu tiên là Chí Khiêm Đường ở phía trái, nơi thờ các bà vợ vua. Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn - một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước. Giữa hồ có đảo Tịnh Khiêm với những mảnh đất trồng hoa và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm.
[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đến ngắm hoa, làm thơ, đọc sách... Ba cây cầu Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm và Do Khiêm bắt qua hồ dẫn đến đồi thông.
Bên trong Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây. Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua và Hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường - nơi cất đồ ngự dụng. Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn. Có một hành lang từ điện Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết. Cạnh đó là Tùng Khiêm Viện, Dung Khiêm Viện và vườn nuôi nai của vua. [Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Sau khu vực tẩm điện là khu lăng mộ. Ngay sau Bái Đình với hai hàng tượng quan viên văn võ là Bi Đình với tấm bia bằng đá Thanh Hóa nặng 20 tấn có khắc bài “Khiêm Cung Ký” do chính Tự Đức soạn. Tuy có đến 103 bà vợ nhưng Tự Đức không có con nối dõi nên đã viết bài văn bia này thay cho bia “Thánh đức thần công” trong các lăng khác. Toàn bài văn dài 4.935 chữ, là một bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời, vương nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình, kể công và nhận tội của Tự Đức trước lịch sử. Đằng sau tấm bia là hai trụ biểu sừng sững như hai ngọn đuốc tỏa sáng cùng với hồ Tiểu Khiêm hình trăng non đựng nước mưa để linh hồn vua rửa tội.
LĂNG KHẢI ĐỊNH (Ứng Lăng):

[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Vua Khải Định (1885-1925) có tên là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, con trưởng của vua Đồng Khánh và bà Dương Thị Thục (Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu). Năm 1916, sau khi vua Duy Tân bị Pháp đày đi Réunion, triều đình Huế đã lập Bửu Đảo lên ngôi vua vào ngày 18-5-1916, lấy niên hiệu là Khải Định. Vua Khải Định ở ngôi được 10 năm (1916-1925) thì bị trọng bệnh và mất, là vị vua thứ 12 của triều Nguyễn và là người cuối cùng xây dựng lăng tẩm, chuẩn bị cho sự “ra đi” của một ông vua vào buổi mạt kỳ của chế độ phong kiến. Bước lên ngai vàng vào giữa tuổi 31, Khải Định say sưa với việc xây dựng cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, cung An Định, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Đức, đặc biệt là Ứng Lăng. Những công trình này làm hao tổn nhiều nhân lực, của cải của binh dân, song đó cũng là những công trình có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Trị vì được một thời gian, vua Khải Định đã lo nghĩ việc tạo dựng sinh phần cho mình. Sau khi tham khảo nhiều tấu trình của các thầy Địa, Khải Định chọn triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) làm vị trí để xây cất lăng mộ. Tọa lạc tại vị trí này, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án; lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”; có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”. Nhà vua đổi tên núi Châu Chữ - vừa là hậu chẩm, vừa là “mặt bằng” của lăng - thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi: Ứng Lăng. Lăng khởi công ngày 4-9-1920 và kéo dài trong 11 năm mới hoàn tất. Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá là người chỉ huy với sự trưng tập nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước như Phan Văn Tánh, Nguyễn Văn Khả, Ký Duyệt, Cửu Sừng... Để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền 30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng. Hành động này của Khải Định đã bị lịch sử lên án gay gắt. Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise...,cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu... để kiến thiết công trình. So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có một diện tích rất khiêm tốn: 117m x 48,5m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian. Người đời sau thường đặt lăng Khải Định ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi cái mới, cái lạ, cái độc đáo, cái ngông nghênh, lạc lõng... tạo ra từ phong cách kiến trúc. Toàn cảnh lăng Khải Định có một cái gì đó vừa quen, vừa lạ. Tổng thể của lăng là một khối hình chữ nhật vươn lên cao với 127 bậc cấp như muốn thể hiện khát vọng tự chủ của ông vua bù nhìn này. Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique... đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể: những trụ cổng hình tháp ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ; trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật; hàng rào như những cây thánh giá khẳng khiu; nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể... Điều này là kết quả của hai yếu tố: sự giao thoa văn hóa Đông - Tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định. Sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã đột phá cánh cửa phong kiến để làn gió của văn hóa Tây Âu tràn vào Việt Nam. Mặt khác Khải Định là một ông vua hiếu kỳ, chuộng cái mới nhưng có sự sàng lọc, một ông vua “mặc complet bên trong khoác long bào bên ngoài, ngực lấp lánh Bắc Đẩu Bội Tinh, thắt lưng gắn bóng đèn điện chớp đỏ” (lời L. Cadière) nên chẳng có gì phải “kiêng nể” trong việc “thâu tóm điều hay, cái lạ” của thế giới vào ngôi nhà vĩnh cửu của mình. Ý muốn kỳ quặc của ông vua ngông nghênh đó đã không bị bê nguyên xi vào trong kiến trúc. Bằng óc thông minh, sự chọn lọc tinh tế và đôi tay tài hoa khéo léo, người thợ Việt Nam đã tạo cho công trình những tuyệt tác nghệ thuật.
Cung Thiên Định ở vị trí cao nhất là kiến trúc chính của lăng, nơi mà tài hoa của những người thợ được phô diễn, gởi gắm. Công trình này gồm 5 phần liền nhau: 2 bên là Tả, Hữu Trực Phòng dành cho lính hộ lăng; phía trước là điện Khải Thành, nơi có án thờ và chân dung vua Khải Định; chính giữa là bửu tán, pho tượng nhà vua và mộ phần phía dưới; trong cùng là khám thờ bài vị của ông vua quá cố. Toàn bộ nội thất của 3 gian giữa trong cung Thiên Định đều được trang trí những phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh. Đó là những bộ tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vương miện... kể cả những vật dụng rất hiện đại như đồng hồ báo thức, vợt tennis, đèn dầu hỏa... cũng được trang trí nơi đây. Những vật liệu cứng, biệt lập, qua bàn tay vàng khéo léo của các nghệ nhân đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật mềm mại, sống động và vô cùng rực rỡ. Đặc biệt chiếc bửu tán bên trên pho tượng đồng trong chính tẩm với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác nó được làm bằng nhung lụa, có thể xao động trước gió mà quên đi rằng đó đích thực là một khối bê tông cốt thép nặng gần 1 tấn. Bên dưới bửu tán là pho tượng đồng của Khải Định được đúc tại Pháp năm 1920. Tượng do 2 người Pháp là P.Ducing và F. Barbedienne thực hiện theo yêu cầu của vua Khải Định. Thi hài nhà vua được đưa vào dưới pho tượng bằng một toại đạo dài gần 30m, bắt đầu từ phía sau Bi Đình. Phía sau ngôi mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết của vua. Toàn bộ trang trí bên trong cung Thiên Định không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa, nghệ thuật mà còn đề cập đến vấn đề nhận thức, chủ đề tư tưởng của công trình và ý muốn của nhà vua. Bên cạnh các đồ án trang trí rút từ các điển tích Nho giáo và cuộc sống của chốn cung đình, còn có những đồ án trang trí của Lão Giáo và đặc biệt là hàng trăm chữ Vạn - một biểu trưng của nhà Phật được đắp bằng thủy tinh xanh trên tường hậu tẩm. Phải chăng đó là sự thể hiện “Tam Giáo đồng hành” trong tư tưởng của vua quan và Nho sĩ đương thời? Phải chăng nhà vua cũng mong muốn được thư nhàn lúc về già và được nhập Niết Bàn, được siêu thoát sau khi băng hà ? Hay đó là sự bế tắc về tư tưởng của Khải Định nói riêng và tầng lớp quan lại thuở đó? Tất cả là những gợi mở đầy thú vị để du khách chiêm nghiệm mỗi khi tham quan công trình này.
[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Lăng Khải Định mang phong cách kiến trúc pha trộn “nửa Á, nửa Âu”, đánh dấu một giai đoạn kiến trúc cách tân trong lịch sử kiến trúc và mỹ thuật Việt Nam. Về mặt tổng thể, lăng Khải Định giống như một lâu đài kiểu Châu Âu, nằm trên sườn núi cao và được xây dựng chủ yếu bằng vật liệu có nguồn gốc Tây phương như: bê-tông cốt thép; những cánh cửa sắt đồ sộ, lợp ngói ardoise, gạch careaux... Bên cạnh đó, phong cách kiến trúc Á Đông cũng kết hợp một cách nhuần nhuyễn thể hiện qua việc sắp xếp bố cục cảnh quan, tuân thủ nguyên tắc phong thủy địa lý trong việc tận dụng núi đồi, khe suối chung quanh để tạo thế tả thanh long, hữu bạch hổ; minh đường, thủy tụ; tiền án, hậu chẩm... Người chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật trong lăng Khải Định là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của 3 bức bích họa “Cửu long ẩn vân” lớn vào bậc nhất Việt Nam được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. Nhờ những đóng góp của ông và bao nghệ nhân dân gian tài hoa của nước Việt, lăng Khải Định đã trở thành biểu tượng, đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh. Cho dù bị lên án dưới nhiều góc độ khác nhau, lăng Khải Định đích thực là một công trình có giá trị về mặt nghệ thuật và kiến trúc. Nó làm phong phú và đa dạng thêm quần thể lăng tẩm ở Huế, xứng đáng với đôi câu đối đề trước Tả Trực Phòng trong lăng: "Tứ diện hiến kỳ quan, phong cảnh biệt khai vũ trụ. Ức niên chung vượng khí, giang sơn trường hộ trừ tư. (Bốn mặt đều là kỳ quan, phong cảnh mở ra một vũ trụ biệt lập. Muôn năm hun đúc nên vượng khí, núi sông giúp đỡ mãi hoài)."
Lăng tẩm của các vua triều Nguyễn là một phần không tách rời khỏi các giá trị, mang dấu ấn thời gian nơi kinh đô Huế. Mỗi khu lăng mộ sẽ mang đến cho du khách một cảm nhận khác nhau, với một chút thơ, một chút nhạc và còn có những câu chuyện vui - buồn trôi cùng dòng chảy tháng năm.
[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]

Giang hồ mê chơi quên quê hương
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà

thay đổi nội dung bởi: ongnon, 08-07-2008 lúc 11:22 AM.
ongnon is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
2 kẻ Bồng bột đã cảm ơn ongnon vì bài viết Ngớ ngẩn này ^_^!
jloveVIETNAM (02-12-2008), yueliang (08-07-2008)
Old 08-07-2008, 10:41 PM
  post #2
unghoadaphu
Khách mời
 
unghoadaphu's Avatar
 
ID: 323
Tham gia: 30-05-2008
Giới tính: Hiden
Bài gởi: 476
Cảm ơn: 25
Được cảm ơn: 162 lần trong 81 bài viết
Default

@

Trong các Lăng Tẩm ở Huế thì Khiêm Lăng là đẹp nhất , Khiêm Lăng còn có tên gọi khác là Vạn Niên Cơ nơi khởi nguồn của cuộc khởi nghĩa Chày Vôi

Vạn niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính hào đào máu dân

Khi xưa vua Tự Đức chẳng hiểu vì lý do gì mà đã cố công xây dựng một Khiêm Lăng ?

Ứng Hòa Dã Phu 096 291 8899
unghoadaphu is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 09-11-2008, 08:35 AM
  post #3
khoancat_betong
Senior Member
 
khoancat_betong's Avatar
 
ID: 19
Tham gia: 18-05-2008
Đến từ: Nền văn minh lúa nước
Giới tính: Male
Sở thích: Săn bắn, hái lượm
Nghề nghiệp: Thợ xây
Bài gởi: 182
Cảm ơn: 7
Được cảm ơn: 125 lần trong 62 bài viết
Default

Vào Huế dc 3 tháng rồi mà vẫn chưa đi dc đến đâu buồn thật

khoancat_betong is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 02-12-2008, 02:24 PM
  post #4
jloveVIETNAM
Dtt Member
 
jloveVIETNAM's Avatar
 
ID: 1061
Tham gia: 16-06-2008
Giới tính: Male
Sở thích: GIRL xD
Bài gởi: 69
Cảm ơn: 49
Được cảm ơn: 147 lần trong 10 bài viết
Default

[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]
Khách mời danh dự

Vạn niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính hào đào máu dân
...


bạn ơi, viết nốt cả bài này ra đi , :>

------------------------------------ i VIETNAM
jloveVIETNAM is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 14-12-2008, 08:43 PM
  post #5
Jenny Trần
Khách mời
 
Jenny Trần's Avatar
 
ID: 27
Tham gia: 18-05-2008
Giới tính: Female
Sở thích: 听音乐, 上网 ,旅游 , 看电影
Bài gởi: 129
Cảm ơn: 17
Được cảm ơn: 242 lần trong 64 bài viết
Default

Các vị vua nì quan niệm Chết ko phải là hết cho nên mấy ổng rất coi trọng việc xây lăng .
Triều Nguyễn 13 đời vua , chỉ có 7 lăng gồm : Lăng Gia Long , Minh Mạng , Thiệu Trị , Tự Đức , Đồng Khánh , Dục Đức , Khải Định . Trong đó 3 lăng nên tham quan nhất là Lăng Minh Mạng , Tự Đức và Khải Định

Khương Đại Vệ VietNam Fan Club
http://johnchiangvn.com

thay đổi nội dung bởi: Jenny Trần, 14-12-2008 lúc 08:48 PM.
Jenny Trần is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 14-01-2009, 05:43 PM
  post #6
ongnon
Khách mời
 
ongnon's Avatar
 
ID: 6
Tham gia: 13-05-2008
Bài gởi: 1,242
Cảm ơn: 136
Được cảm ơn: 787 lần trong 392 bài viết
Default

Ảnh cuối có con khỉ nào trên cây kia, đúng dân Việt Nam chỉ vì chụp ảnh trèo hết lên cây, hết người này trèo rồi người khác trèo đến khi cái cây đổ rồi thì chả ai trèo nữa

Giang hồ mê chơi quên quê hương
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà
ongnon is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 14-01-2009, 05:55 PM
  post #7
khoancat_betong
Senior Member
 
khoancat_betong's Avatar
 
ID: 19
Tham gia: 18-05-2008
Đến từ: Nền văn minh lúa nước
Giới tính: Male
Sở thích: Săn bắn, hái lượm
Nghề nghiệp: Thợ xây
Bài gởi: 182
Cảm ơn: 7
Được cảm ơn: 125 lần trong 62 bài viết
Default

Ongnon coi thường sức chịu tải của cái cây đó quá. Cả đàn ong lên đó vẫn đứng hiên ngang. Khỏi tính Moment lật.


thay đổi nội dung bởi: khoancat_betong, 14-01-2009 lúc 06:03 PM.
khoancat_betong is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-01-2009, 10:33 AM
  post #8
unghoadaphu
Khách mời
 
unghoadaphu's Avatar
 
ID: 323
Tham gia: 30-05-2008
Giới tính: Hiden
Bài gởi: 476
Cảm ơn: 25
Được cảm ơn: 162 lần trong 81 bài viết
Default

HI

Kiếm thêm 1 ít Ảnh về Kiến Trúc cổ đi , mấy cái này rất Hữu Ích

Có thể của Nhật Bản , Hàn Quốc nữa

Xin trân thành cảm ơn trước

Ứng Hòa Dã Phu 096 291 8899
unghoadaphu is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 14-11-2011, 06:26 PM
  post #9
daothuy_trungk7b
Junior Member
 
daothuy_trungk7b's Avatar
 
ID: 115011
Tham gia: 14-11-2011
Giới tính: Female
Bài gởi: 26
Cảm ơn: 1
Được cảm ơn: 0 lần trong 0 bài viết
Default Ðề: Kiến trúc lăng tẩm Huế

mình thật may mắn, đc đi lăng Khải Định roài
daothuy_trungk7b is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

DU HOC TRUNG QUOC Bookmarks DU HOC TRUNG QUOC

Ðiều Chỉnh

Quuyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến

Chủ đề tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
红楼梦-Hồng Lâu Mộng cuunon0811 Văn học Trung Quốc 266 09-10-2012 02:25 AM
Cổ văn ongnon Thư pháp 130 20-04-2012 07:24 PM
Những công trình kiến trúc hấp dẫn khách du lịch didulich Danh lam thắng cảnh - Du lịch Việt Nam 0 16-03-2011 03:52 PM
Kiến trúc cổ Việt Nam ongnon Kiến Trúc 13 18-02-2009 01:42 PM
Kiến trúc Pháp tại Hà Nội ongnon Kiến Trúc 0 09-07-2008 11:46 AM


Múi giờ GMT. Hiện tại là 03:09 AM.